09/072014

TỰ CHỦ KINH TẾ

Lượt xem: 1145

CÂU CHUYỆN VỀ

 “TỰ CHỦ KINH TẾ”


 Gạo là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu thế giới của Việt Nam

         

          Trên trang nhất báo Tuổi Trẻ số ra ngày 16/6/2014 có chạy tít lớn với dòng chữ: “Giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc” và sau đó là ba kỳ liên tiếp với nhiều bài báo liên quan tới đề tài này. Ngày 4/7/2014 báo này cũng đưa tin, bài  về cuộc hội thảo với đề tài “Tự chủ kinh tế” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức một ngày trước đó (3/7), với tựa đề: “Ta đang ghè đá vào chân mình” !…

          Điều đó cũng mặc nhiên thừa nhận rằng nền kinh tế của Việt Nam ta, ít nhiều đang bị phụ thuộc, hoặc lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc, và như vậy, đang  mất đi  tính tự chủ trong kinh tế  với một mức độ  có thể thấy được. Thật ra, điều này không mới, bởi các chuyên gia kinh tế trong cũng như ngoài nước, từ lâu, cũng đã từng nhận định, phân tích và  cũng đã từng cảnh báo. Vấn đề chỉ trở nên rõ nét hơn khi Trung Quốc bắt đầu hạ đặt trái phép giàn khoan Hải dương 981 trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, và tiếp theo đó là các hành động đơn phương gây hấn khác trên biển Đông, mà hầu như mọi người Việt Nam và cả thế giới đều biết là xuất phát từ tham vọng bành trướng lãnh thổ của quốc gia phương Bắc này.

 

          *Cán cân thương mại:

Có những dấu hiệu tác động tiêu cực ban đầu lên các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc với sự kiện các mặt hàng nông sản giảm giá hàng loạt, vì bị dồn ứ lại trong nước sau sự kiện “siết nhập khẩu hàng Việt  qua đường tiểu ngạch” của TQ vừa qua.  Rõ ràng đó chỉ mới là một động thái rất nhỏ, trong một giới hạn rất khiêm tốn của TQ mà đã tác động không nhỏ lên thị trường xuất khẩu trong nước, khiến nông dân phải lao đao như vậy, thì thử hỏi với những tình huống trong phạm vi lớn hơn, hậu quả sẽ ra sao?

          Để có một cái nhìn rõ ràng hơn về giao thương giữa hai nước từ năm 2000 đến nay, ta hãy nhìn vào số liệu xuất nhập khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc, qua ba mốc thời gian như sau (nguồn VCCI), trong đó:

          -Năm 2000: Xuất khẩu:   1,4 tỉ USD – Nhập khẩu:   1,5 tỉ USD

          -Năm 2006: Xuất khẩu:   3,1 tỉ USD – Nhập khẩu:   7,4 tỉ USD

          -Năm 2013: Xuất khẩu: 13,3 tỉ USD – Nhập khẩu: 37,0 tỉ USD

Và nhìn vào bảng đồ thị dưới đây, ta thấy rõ ràng tình trang nhập siêu ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, khiến cán cân thương mại lệch hẵn về một phía và chưa có dấu hiệu dừng lại. Đó chính là nguyên nhân của rủi ro, của nguy cơ phụ thuộc,  mất tự chủ về kinh tế.

 

*Lệ thuộc về xuất khẩu:

Có thể thấy rằng những ngành mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam là dệt may, da giày và đặc biệt là nông, thủy, hải sản. Trong đó, riêng các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực là khoai mì, gạo, sao su, hạt điều và rau quả, trong 4 tháng đầu năm 2014,  số liệu từ  Tổng cục hải quan về  “Tỉ trọng xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc” so với tổng lượng xuất khẩu chung của Việt Nam,  ghi nhận một thực tế như sau:

-Khoai mì:  86,56 %                              -Gạo:          39,84%                            

-Rau quả:     31,75%                             -Cao su:       35,91% 

Với các tỉ trọng  gần như áp đảo đến như vậy,  đã nói lên rằng, khi thị trường Trung Quốc có biến động, bị “tắc” do bất cứ nguyên nhân nào, thì tình hình xuất khẩu của ta cũng theo đó mà trì trệ, khủng hoảng theo.

Tất nhiên, tình trạng lệ thuộc và nguy cơ dẫn đến  những hệ lụy này, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam đều nhận  biết. Nhưng bởi công nghiệp chế biến trong nước vẫn còn lạc hậu, hàng hóa thành phẩm  chỉ ở dạng thô, sơ chế, có giá trị gia tăng thấp, nên Trung Quốc, với số dân đông và thị trường “dễ tính” vẫn là lựa chọn bắt buộc. Đó là chưa nói đến cung cách làm ăn “chụp giật” có tính ngắn hạn, thời vụ của một số doanh nghiệp với tâm lý “được lúc nào hay lúc ấy” và không muốn ràng buộc lâu dài và ổn định về đầu ra cho nông dân. Chính cả hai nguyên nhân khách quan và chủ quan ấy  đã đẩy tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam ngày càng bị lệ thuộc vào một thị trường duy nhất.

Mặt khác, xuất khẩu sang Trung Quốc hiện chiếm một tỉ trọng đáng kể qua con đường thương mại tiểu ngạch. Và với kênh xuất khẩu phi chính thức này, không chỉ gây thất thu thuế mà còn gây khó khăn cho việc quản lý, điều chỉnh khi gặp phải tình huống đột biến.



Cao su  xuất khẩu dạng thô, giá trị thấp


*Lệ thuộc về nhập khẩu:

Hàng hóa nhập siêu từ Trung Quốc vào Việt Nam không những bao  gồm các nguyên phụ liệu (NPL) sản xuất cho công nghiệp chủ lực trong nước như may mặc, da giày, mà còn cả các vật tư trong sản xuất nông nghiệp cả về nông sản lẫn  chăn nuôi.

-Trong  lĩnh vực công nghiệp, các nguyên phụ liệu cho hai ngành may mặc và da giày, lâu nay, theo ông Nguyễn Chí Trung, tổng giám đốc công ty cổ phần giày Gia Định, 60% nguồn NPL cho sản xuất đều phải nhập từ Trung Quốc (chỉ một số rất ít nhập từ Hàn Quốc, Ấn Độ, Bangladesh). Thậm chí, theo ông Lê Quang Hùng, chủ tịch HĐQT công ty cổ phần Garmex Sài Gòn, 90% NPL phải nhập từ TQ do khách đặt hàng chỉ định mua.

Các nguyên phụ liệu cho hai ngành may mặc và da giày chủ yếu là thuốc nhuộm, hóa chất đều phải nhập từ nước láng giềng phía Bắc này, bởi trong nước, cho tới nay vẫn chưa có công nghiệp phụ trợ để sản xuất các NPL. Thành ra dù Việt Nam có năng lực sản xuất vải, nhưng tắc ở khâu dệt nhuộm, đành phải xuất khẩu vải dưới dạng thô, giá trị thấp, rồi lại nhập trở về thành phẩm (tất nhiên với giá trị cao) để sản xuất hàng may mặc và da giày!

-Trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ riêng với cây lúa, mặc dầu Việt Nam là quốc gia xuất khẩu gạo thuộc vào hàng đầu thế giới, mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế,  nhưng các vật tư phục vụ cho sản xuất như phân bón và thuốc trừ sâu đều phải nhập phần lớn từ Trung Quốc (đến 50% tổng lượng nhập khẩu). Đặc biệt về chăn nuôi, 100% nguồn cung thức ăn và thuốc thú y, thủy sản đều phải nhập hay cung ứng từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), chủ yếu là của Đài Loan và Trung Quốc.

Rõ ràng đây cũng vẫn là vấn đề thuộc về công nghiệp phụ trợ, hay gọi đúng hơn là công nghiệp hỗ trợ (supporting industry). Và hiện trạng này  khiến ta phải suy nghĩ và đặt câu hỏi là tại sao các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam lại thiếu thốn, yếu kém và chậm phát triển đến như vậy? Phát biểu của ông Diệp Thành Kiệt, phó chủ tịch Hiệp hội Da giày Việt Nam, có thể phần nào lý giải thực trạng trên: “ Hai khu công nghiệp tập trung để sản xuất nguyên phụ liệu đặt ở phía Bắc và phía Nam, dù đã được lên kế hoạch từ 10 năm trước, đến nay vẫn chỉ là kế hoạch”!



Vải thiều ứ đọng do tắc đường sang TQ năm  2014

 

*Lệ thuộc về công nghệ:

Trên đây là những phụ thuộc  vể xuất khẩu và nhập khẩu, mà tất yếu sẽ dẫn đến những lệ thuộc trong sản xuất. Bởi một khi tắc đường xuất có nghĩa là  đầu ra của sản phẩm bị chặn, và ngược lại khi đường nhập có vấn đề thì đầu vào cho sản xuất cũng lập tức bị ảnh hưởng. Còn một lĩnh vực quan trọng khác là công nghệ thì lại cũng đang bị phụ thuộc vào TQ mà theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh – nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương – đó là “điểm yếu tử huyệt” của Việt Nam.

Chỉ nói riêng về ngành cơ khí, theo ông Nguyễn Văn Thụ - chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, thì  “trong giai đoạn cao điểm nhiều dự án cơ khí là 2003-2011 thì  5/6 dự án nhà máy hóa chất, 2/2 dự án chế biến khoáng sản, 49/62 dự án nhà máy xi măng, 16/27 dự án nhà máy nhiệt điện đều rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc”. Và lẽ tất nhiên các thiết bị sử dụng cho các dự án thì hầu hết chỉ là công nghệ của TQ. Và câu hỏi là “tại sao tất cả các dự án quan trọng thời gian qua đều lọt vào tay các nhà thầu TQ” vẫn là thắc mắc của không ít những ai quan tâm đến nền công nghiệp của nước nhà.

Không lẽ các doanh nghiệp cơ khí  của Việt Nam ở trong nước thảy đều không đủ trình độ và năng lực để thực hiện các công trình trên chính đất nước mình? Có đấy,  và chắc chắn là như vậy. Bởi theo ông Nguyễn Văn Thụ, ngay cả một giàn khoan khổng lồ cỡ như HD 981 của TQ, nếu được Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đặt hàng, các doanh nghiệp cơ khí trong nước vẫn làm được. Thế nhưng, câu đáp ở đây  vẫn luôn viện dẫn ở kết quả đấu thầu, và đơn giản ai bỏ thầu với giá thấp nhất sẽ thắng. Nhưng điều đáng suy nghĩ là sau khi trúng thầu, có bao nhiêu lần phải điều chỉnh chi phí và vốn dự toán ban đầu bị đội lên bao nhiêu phần trăm, đặc biệt là tiến độ và chất lượng công trình rốt cuộc ra sao, có kịp thời, có tương xứng với số vốn đã bỏ ra không, thì vẫn là chuyện đã rồi, như “cái lao đã phóng đi” và không nghe bàn tới nữa!



                 Nhà máy bô-xit Nhân Cơ do TQ tổng thầu với số vốn đầu tư 500 triệu USD
 

 

Có điều như TS Lê Đăng Doanh đã nói: “Sống cạnh Trung Quốc mà làm sản phẩm y như TQ thì khó có thể cạnh tranh được”. Và ông  cảnh báo thẳng thừng rằng “doanh nghiệp TQ là bậc thầy về lại quả, hối lộ”. Điều đó càng làm ta phải suy nghĩ và  không khỏi suy diễn về những điều không hay trong quản lý kinh tế của các cơ quan có trách nhiệm, không khỏi se lòng khi nghĩ tới cụm từ “tự chủ kinh tế”.

 

*Kết luận:

Ai cũng biết, đối với mọi quốc gia,  kinh tế có vững thì chính trị mới thật sự độc lập và ổn định. Kinh tế có mạnh thì  quân sự (trong đó có con người và khí tài) mới có điều kiện đủ để bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, chống được ngoại xâm. Mà muốn kinh tế mạnh thì ngoài việc đẩy mạnh sản xuất (trong đó chủ động được đầu ra, đầu vào),  điều quan trọng là làm sao mở rộng được giao thương với mọi quốc gia trên thế giới, tránh  bị lệ thuộc vào một thị trường nào, một quốc gia nào, cho dù đó là  bạn, là hữu nghị lâu năm. Bởi thực tế lịch sử cho thấy “không có kẻ thù và bạn bè nào là mãi mãi, mà chỉ có lợi ích là mãi mãi” mà thôi.

Trung Quốc là một đất nước với dân số gần 1,4 tỉ người với quy mô kinh tế lớn và hiện là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ. Với một thị trường khổng lồ và đa dạng về phân khúc như vậy, thì giao thương với TQ là đích nhắm và là cơ hội cho tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nói khác, không giao thương với TQ  là bỏ qua cơ hội. Vấn đề là làm sao tận dụng được lợi ích từ hoạt động thương mại hai chiều với nước này – điều mà các quốc gia Asian bạn như Malaysia, Thái Lan, Philippines hay Singapore đã làm được mà Việt Nam vẫn chưa làm được.

Trí tuệ của người Việt, rõ ràng không hề thua kém, so với Trung Quốc hay  bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Vấn đề ở đây vẫn là sự đoàn kết và lòng yêu nước thực sự của mọi công dân, từ cấp lãnh đạo, quản lý kinh tế  cho đến doanh nhân, doanh nghiệp. Nhưng yêu nước là phải  bằng hành động, bằng ý thức “tự chủ kinh tế” nằm lòng chứ không phải chỉ bằng những lời nói suông. Lợi ích của quốc gia phải luôn là “lợi ích tối thượng” , đặt lên trên hết, chứ không phải là lợi ích cục bộ,  phe nhóm hay bất cứ cá nhân nào.

 *Bài: NGUYÊN THANH
            *Hình ảnh: nguồn internet

 

 

 

 

 

Cập nhật ngày Thứ tư, 09/07/2014

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Liên kết hội đồng hương

  • Đồng Hương Làng Ưu Điềm
  • Làng Kế Môn Sài Gòn
  • Văn Hóa Miền Trung
  • Trang thông tin điện tử Huyện Phong Điền
  • Đồng Hương Điền Hải
  • HĐH Mỹ Xuyên Cang
  • Hội ĐH Làng cổ Phước Tích
  •  Làng Đại Lộc
  • Làng Vĩnh Xương
  • Làng Lương mai
  • BQL Làng cổ Phước Tích
  • Làng Thế Chí Tây

HĐH P.Điền trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 42
Tổng truy cập: 945.966