10/122013

ĐỊA CHÍ PHONG ĐIỀN (TÓM LƯỢC)

Lượt xem: 4355
PHẦN THỨ NHẤT (TIẾP THEO)

    KHOÁNG SẢN

  Vùng đất Phong Điền có tiềm năng về khoáng sản, phân bố cả ở vùng đồi núi và đồng bằng. Các loại khoáng sản gồm nhiên liệu, kim loại, cát thạch anh, đá vôi, nước khoáng và nước ngầm.
   1.-Nhiên liệu
    Chủ yếu là than bùn hình thành trên vùng cát nội đồng, trong quá trình đầm lầy hóa từ xác chết thực vật phân hủy thành bùn trong nhiều triệu năm, từ kỷ thứ tư. Có 6 dải trằm chứa than ở Phong Điền: trằm Phong Nguyên, trằm Niêm, trằm Thiềm, trằm Hóa Chăm, trằm Bàu Bàng và trằm Sen. Tổng cộng diện tích chứa than khoảng 2.281.416m2 với độ dày thay đổi từ 1-5m. Chất lượng than bùn ở đây được đánh giá từ khá đến tốt, nổi bật là trằm Phong Nguyên (trữ lượng 933.154 tấn) và trằm Hóa Chăm (112.282 tấn).
   2.-Kim loại
    Phong Điền có quặng sắt ở Hòa Mỹ, là điểm quặng có nguồn gốc nhiệt dịch. Quặng có hàm lượng sắt cao từ 35-63% nhưng quy mô nhỏ. Điểm quặng antimony Phong An là quặng nghèo, ít triển vọng, trước đây người Pháp đã khai thác.
  3.-Cát thạch anh

 

     Phong Điền có các mỏ cát với diện tích khá rộng, chứa lượng thạch anh rất lớn và đầy tiềm năng (98,4% là thạch anh SiO2). Có 3 dải cát: phía bắc, trung tâm và phía nam với tổng diện tích 42km2, trữ lượng là 103.595.686m3, trong đó, triển vọng nhất về cát để sản xuất thủy tinh cao cấp, pha lê, gốm và men-frit là mỏ Cồn Thiềm (trữ lượng 41.540.000m3).
  4.- Đá vôi

 

    Phân bố trên diện rộng ở đồng bằng Phong Sơn, Phong Xuân ngược về phía tây lên Hòa Mỹ, có nguồn gốc trầm tích. Khoáng vật chủ yếu là cacbonát canxi (CaCO3), khoáng vật sét và thạch anh. Mỏ đá vôi có chất lượng khá đồng đều, vôi chiếm hàm lượng lớn trên 52%, đảm bảo cho sản xuất xi-măng, trữ lượng 151,456 triệu tấn. Mỏ đá sét ở Phong An, Phong Thu đạt chất lượng làm gạch ngói, trữ lượng 63,028 triệu tấn.
  5.-Nước khoáng

 

    Đó là nguồn nước khoáng Thanh Tân nằm ở xã Phong Sơn, được khai thác từ điểm lộ tự nhiên và lỗ khoan sâu 90m vào năm 1980. Nguồn nước khoáng này thuộc loại nước khoáng Silic, rất nóng (cao nhất 69oC). Lưu lượng nước tự chảy ở nguồn lộ lớn nhất là 165m3/ngày. Nước khoáng Thanh Tân cùng với khu du lịch sinh thái ở đây là thương hiệu có uy tín trên cả nước.
  6.-Nước ngầm

 

    Kết quả khoan thăm dò nước ngầm ở vùng cát nội đồng Phong Điền cho thấy vùng đất này khá giàu nước. Từ mặt đất xuống độ sâu quá 100m có 4 tầng chứa nước. Tuy nhiên chỉ có 2 tầng có điều kiện khai thác thuận lợi, chất lượng nước tốt. Tầng thứ nhất ở độ sâu 8-9m, trên mặt là cát màu trắng xám, dưới là cát, cát bột, sét bột dẻo mịn. Mỗi lỗ khoan có thể khai thác được 450-500m3 nước/ngày. Tầng thứ hai sâu hơn từ 30-60m gồm sạn và sỏi lẫn cát, có thể đạt trung bình 1.000m3 nước/ngày cho một lỗ khoan.
 
CHƯƠNG BỐN
                                                                               DÂN CƯ

 

 

      QUÁ TRÌNH TỤ CƯ LẬP LÀNG

 

       -Từ các phế tích và di tích được phát hiện cho thấy địa bàn huyện Phong Điền trước năm 1307 là một vùng cư trú khá phồn thịnh của người Chăm Pa. Từ năm 1307, sau hôn lễ giữa công chúa Huyền Trân với vua Chiêm là Chế Mân, hai châu Ô, Lý vốn là sính lễ dẫn cưới, đã được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt, với tên gọi mới là châu Thuận và châu Hóa, việc di dân của người Việt vào vùng đất này mới chính thức khởi đầu.
    -Đến đầu thế kỷ XV, dưới thời nhà Hồ, việc di dân lại tiếp tục, không những vào Thuận, Hóa mà còn cả Thăng, Hoa, Tư Nghĩa phía bắc Quảng Ngãi. Đến thời nhà Lê, vào giữa thế kỷ XV, cuộc di dân từ Thanh Nghệ vào Thuận Hóa được tiếp tục trong bối cảnh thuận lợi hơn, hình thành các làng dọc theo bờ nam sông Ô Lâu, vùng cát và ruộng đồng ven bờ bắc phá Tam Giang. Tương tự, tại địa bàn phía nam huyện, ở bờ bắc sông Bồ, quá trình tụ cư lập làng cũng được xúc tiến mạnh mẽ, nhất là sau chiến thắng Đồ Bàn dưới triều vua Lê Thánh Tông (1471).         
     -Như vậy, cho đến cuối thế kỷ XV, trên địa bàn huyện Phong Điền đã có 24 làng Việt định cư : đó là các làng Đa Cảm (Mỹ Xuyên), Đàm Bổng (Ưu Điềm), An Triền (Hòa Viện), Bể Thu (Phú Nông),Vĩnh Cố (Vĩnh An), Phò Trạch, Đường Long      (Chí Long), Chánh Lộ (Chánh Lộc), Lương Mai; Trung Tuyền (Trung Đồng), Vĩnh Áng (Vĩnh Xương), Hương Triền ( Thanh Hương), Thế Chí; Hoa Lang (Hiền Lương),An Lỗ, Bồ Điền, Phò Đái (Phò Ninh), Hiền Sĩ, Đông Dã, Cổ Bi;  Cảm Quyết (Phước Tích), Kế Môn, Đông Lâm và Thượng Lộ (Thượng An).
      -Từ năm 1558, sau khi vào trấn thủ Thuận Hóa, chúa Nguyễn Hoàng đã tăng cường binh dân khai phá đất hoang hóa thành lập thêm các đơn vị dân cư mới. Các làng sau đây lần lượt ra đời : Vân Lô (Vân Trình), Siêu Loại (Siêu Quần), Trạch Phổ, Cao Ban, Cao Xá Thượng, Cao Xá Hạ, Gia Viên, Lai Xá, Chính Hòa, Đại Lộc.
     -Vào nửa sau  thế kỷXIX và đầu thế kỷ XX, các thôn ấp mới ra đời : Thượng Nguyên, Xuân Lộc, Sơn Qủa, Điền Xuân, Cổ Xuân, Lương Sĩ và Thanh Tân ở vùng đồi núi trung du, và Mỹ Hòa, Hòa Xuân ven phá Tam Giang; Khúcx Lý, Hưng Thái, Lưu Phước, Hòa Mỹ, Hiền An, Hải Nhuận, Tân Hội.
    -Đặc biệt sau ngày thống nhất đất nước, trong chủ trương xây dụng vùng kinh tế mới ở phía tây, các thôn mới cũng được thành lập : Vinh Ngạn, Vinh Phú, Xuân Phú, Xuân Lập, Phong Hòa, Bình An, Lộc Lợi, Tân Lập, Tân Mỹ, Quảng Phước, Quảng Thọ, Thái Mỹ, Đông Mỹ và Phong Thu.
   Tóm lại, phải trải qua ngót 600 năm từ khi những làng Việt đầu tiên định cư trên đất Phong Điền, việc phân bố dân cư trên địa bàn huyện, từ triền núi phía tây đến ven biển phía đông, và từ phía nam sông Ô Lâu đến phía bắc sông Bồ, mới tỏa ra khắp địa bàn.
 
      ĐẶC ĐIỂM QUẦN CƯ VÀ PHÂN BỐ DÂN CƯ

 

      1.Thời kỳ trước năm 1558

 

     Trong thời kỳ này, đặc điểm quần cư và không gian phân bố dân cư bị chi phối bởi các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và quan hệ cộng đồng làng xã, họ tộc. Quan hệ với thiên nhiên đòi hỏi con người phải chọn nơi có các điều kiện định canh, định cư thuận lợi. Trên lãnh thổ Phong Điền, đó là các đồng bằng phù sa ven sông Ô Lâu, sông Bồ, ven phá Tam Giang, nơi có đất đai phì nhiêu, nguồn nước phong phú, điều kiện giao thông dễ dàng, nhất là đối với cư dân nông nghiệp. Vì vậy các làng xã đầu tiên đều hình thành ven sông, ven đầm phá.
     Quan hệ cộng đồng làng xã, họ tộc, trong vùng đất mới xa lạ và nhiều khó khăn như ở thời kỳ này cũng là một nhu cầu không thể thiếu. Quần cư của cư dân được tổ chức theo kiểu nông thôn làng xã, như truyền thống của Đại Việt, vừa là tổ chức cơ sở của nhà nước trung ương, mà cũng vừa là nhu cầu của địa phương. Ở đó có quan hệ họ tộc, huyết thống, có sự gắn bó máu thịt giữa các thành viên, các thế hệ khác nhau, cùng sống quây quần bên nhau.
    Tuy nhiên, nét nổi bật là cư dân trên đất Phong Điền thời kỳ này còn khá thưa thớt, chỉ mới 24 làng với ước tính chừng 10.000 người.
      2.Thời kỳ từ 1558 đến 1975

 

     Trong thời kỳ này, quần cư nông thôn làng xã vẫn là kiểu quần cư chủ yếu, nhưng bên cạnh, kiểu quần cư đô thị cũng được hình thành tuy chưa rõ nét. Không gian định cư được mở rộng ra các vùng đất mới, sau khi các đồng bằng phì nhiêu ven sông đã được tận dụng. Nhiều phường xã, thôn ấp xuất hiện. Ngoài nông nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống được tạo điều kiện phát triển (gốm Phước Tích, mộc Mỹ Xuyên, rèn Hiền Lương, đệm bàng Phò Trạch, kim hoàn Kế Môn). Chợ búa cũng hình thành, đẩy mạnh giao lưu buôn bán (chợ Phò Ninh, chợ Phò Trạch, chợ Ưu Điềm, chợ Đại Lược).
     Đặc biệt, làng xã đã có sự thay đổi về chất, trở thành tổ chức cơ sở vũng mạnh của triều Nguyễn. Sau Cách mạng tháng Tám, làng xã đã có nhiều thay đổi, đáp ứng với yêu cầu của chế độ mới, đảm bảo hoàn thành mọi nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
       3.Thời kỳ từ 1975 đến nay

 

     Sau ngày quê hương Phong Điền được giải phóng, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Đến năm 2003, dân số toàn huyện đã lên tới 104.583 người, phân bố ở 15 xã và 1 thị trấn, mật độ dân số bình quân 109 người/km2. Tuy vậy sự phân bố dân cư trong huyện không đồng đều : vùng ven biển, ven bờ đông phá Tam Giang có mật độ lớn (700 người/km2), các xã vùng đồng bằng trung bình (400 người/km2), trong khi các xã vùng núi vẫn còn khá thưa thớt (90 người/km2).
     Ở giai đoạn này, không gian phân bố dân cư được mở rộng lên vùng đồi với tốc độ nhanh. Quần cư đô thị đã và đang hình thành rõ nét, với nhiều thị tứ tiêu biểu như An Lỗ, Ưu Điềm, Phong Mỹ, Điền Lộc, Điền Hải, đặc biệt là thị trấn Phong Điền.
     Nguồn lao động của huyện khá dồi dào. Tổng số lao động đang làm việc là 44.461 người, chiếm 42,4% dân số. Cơ cấu ngành nghề cũng có thay đổi và đa dạng hóa: ngoài nông nghiệp còn có ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ và giao thông vận tải.
 
CHƯƠNG NĂM
                                             CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÁNH

 

 
      THỜI KỲ TRƯỚC 1306

 

     Vào thời các vua Hùng, vùng đất Phong Điền thuộc bộ Việt Thường Thị - 1 trong 15 bộ của nước Văn Lang. Năm 179 (trước CN), nước Âu Lạc, kế tục nước Văn Lang, bị sáp nhập vào nước Nam Việt (ở Trung Quốc) chia thành 2 quận, trong đó Phong Điền thuộc quận Cửu Chân. Đến năm 111 nhà Hán chiếm Nam Việt đặt thành 9 quận, trong đó Âu Lạc có 3 quận : Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Vùng đất Phong Điền bấy giờ thuộc quận Nhật Nam.
    Từ năm 190 (sau CN) đến năm 248, dân Chăm Pa nổi lên lập ra nước Lâm Ấp, tiến ra phía bắc đến sông Gianh, đến thế kỷ IX gọi là nước Chiêm Thành. Đất Phong Điền lại thuộc quyền cai quản của người Chăm Pa. Đến năm 1307, sau sự kiện nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân, với sính lễ là hai châu Ô và Lý – mà người Việt đổi tên thành châu Thuận và châu Hóa - thì vùng Phong Điền thuộc châu Hóa của nước Đại Việt.
      THỜI KỲ 1307 – 1834

 

      Châu Hóa bấy giờ có 7 huyện : Lợi Bồng, Thế Vinh, Sạ Lệnh, Tư Dung, Bồ Lãng, Bồ Đài và Trà Kệ. Phong Điền tương đương với huyện Bồ Đài và một phần của huyện Trà Kệ.
      Từ năm 1469, thời vua Lê Thánh Tông, rồi đến cột mốc lịch sử 1558, thời Nguyễn Hoàng vào trấn giữ Thuận Hóa, xứ này vẫn được chia thành 2 phủ : Tân Bình và Triệu Phong. Trong đó, Đan Điền và Kim Trà (sau đổi thành Quảng Điền và Hương Trà) là 2 trong 5 huyện của phủ Triệu Phong, có mặt hầu hết các làng xã thuộc huyện Phong Điền ngày nay. Cụ thể :
     -Trong 9 tổng của huyện Hương Trà (Kim Trà cũ) có 2 tổng : tổng Vĩnh Xương gồm 7 làng, 3 thôn (Vĩnh Xương, Hương Triền, Đường Long, Vân Lô, Siêu Loại, Hòa Viện, Kế Môn, Trung Tuyền, Đại Lộc và Chánh Lộc); tổng Phò Trạch  gồm 8 làng, 2 thôn (Phò Trạch, Phú Nông, Vĩnh An, Trạch Phổ, Phước Giang, Lương Mai, Ưu Điềm, Đạm Xuyên, An Thị và Phú Xuân).
     -Trong 8 tổng của huyện Quảng Điền ( Đan Điền cũ) có 4 tổng : tổng Hoa Lang gồm 8 làng, 2 thôn, 2 phường (Hoa Lang, Cao Ban, Bồ Điền, Nam Dương, Cổ Tháp, Lãnh Tuyền, Cao Xá, Ô Sa, Đông Lâm và Cương Gían ; tổng Đông Lâm gồm 9 làng, 1 thôn (Đông Lâm, Cổ Lão, Hương Cần, Nam Phù, Sài Lâm, Nghĩa Lộ, Dương Sơn, Cổ Bi, Long Đài và Trung Hòa) ; tổng Phò Ninh gồm 9 làng, 1 thôn, 1 phường (Phò Ninh, Chính Hòa, Hiền Sĩ, An Lỗ, Gia Viên, Lai Xá, Lương Lộc, Phú Khang, Long Khê, Sơn Công và Vu Lai) ; tổng Phú Ốc gồm 4 làng, 2 phường (Phú Ốc, Bao La, Thủy Lập, Xuân Tử, Bác Vọng và Thế Chí).
       THỜI KỲ 1835 – 1975

 

     Đầu năm 1835, hai từ “Phong Điền” mới bắt đầu xuất hiện khi vua Minh Mạng đặt thêm ba huyện Phú Lộc, Hương Thủy và Phong Điền thuộc phủ Thừa Thiên. Lãnh thổ, địa giới huyện Phong Điền lúc này được xác định rõ, bao gồm 5 tổng, 45 xã, thôn, ấp, phường, giáp, tồn tại cho đến Cách mạng Tháng Tám 1945. Cụ thể như sau :
    Tổng Hiền Lương gồm 6 xã : Hiền Lương, Gia Viên, An Lỗ, Sơn Tùng, Cao Ban, Lương Mai và 2 thôn : Cao Xá, Đông Lâm. Tổng Vĩnh Xương gồm 3 xã : Vĩnh Xương, Kế Môn, Đại Lộc; 1 ấp Mỹ Hòa và 2 giáp Thế Chí Đông, Thế Chí Tây. Tổng Chánh Lộc gồm 6 xã : Chánh Lộc, Phú Nông, Đường Long, Vân Trình, Thanh Hương, Trung Đồng và 1 ấp Hòa Xuân. Tổng Phò Trạch gồm 8 xã : Phò Trạch, Siêu Quần, Vĩnh An, Hòa Viện, Ưu Đàm, Trạch Phổ, Mỹ Xuyên, Phước Tích; 1 thôn Mỹ Cương và 2 ấp Phú Xuân, Thượng Nguyên. Tổng Phò Ninh gồm 7 xã : Phò Ninh, Thượng An, Bồ Điền, Đông Dã, Hiền Sĩ, Cổ Bi, Xuân Lộc; 5 ấp : Sơn Qủa, Điền Xuân, Huỳnh Liên, Cổ Xuân, Lương Sĩ và 1 phường Thanh Tân.
   Từ sau 1945 đến ngày hòa bình thống nhất 1975, do hoàn cảnh chiến tranh và chia cắt đất nước hai miền Nam Bắc, lãnh thổ Phong Điền và các đơn vị hành chính của huyện liên tục có những biến động và thay đổi. Khởi đầu là giải thể cấp tổng và thành lập cấp xã, là đơn vị hành chính cơ sở. Nhưng rồi đến 1950 huyện Phong Điền lại trở về với 5 tổng như trước 1945, chỉ khác là không có đơn vị mà thay vào đó là đơn vị làng.

 

     Sau Hiệp định Genève 1954, Phong Điền  thuộc tỉnh Thừa Thiên, đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Sài Gòn. Từ 1956, Phong Điền là 1 trong 6 quận của Thừa Thiên, gồm 9 xã : Phong Sơn, Phong An, Phong Hiền, Phong Nguyên, Phong Hòa, Phong Bình, Phong Lộc, Phong Hải và Phong Hương. Sau đó, chính quyền Sài Gòn lại cho tiến hành tổ chức lại hệ thống hành chính của tỉnh, nâng Thừa Thiên từ 6 lên 9 quận, trong đó có hai quận Phong Điền và Hương Điền, vốn là địa bàn các xã của huyện Phong Điền cũ và một số ít xã thuộc Quảng Điền và Phú Vang tách sang.
 
      THỜI KỲ 1975 – 1995

 

    Sau ngày đất nước thống nhất, hòa bình lập lại (1975), thời gian đầu, do hợp nhất 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên làm một - thành Bình Trị Thiên, Phong Điền là 1 trong 20 huyện của tỉnh mới, bao gồm 14 xã : Phong Bình, Phong Hòa, Phong Hiền, Phong Sơn, Phong An, Phong Chương, Phong Thu, Phong Mỹ, Điền Hương, Điền Môn, Điền Lộc, Điền Hòa, Điền Hải và Phong Hải.
      Đến năm 1989, Bình Trị Thiên lại được tách thành 3 tỉnh như cũ, trong đó, tỉnh Thừa Thiên Huế có 5 đơn vị hành chính là thành phố Huế và 4 huyện.  Hương Điền  là 1 trong 4 huyện của tỉnh, gồm 1 thị trấn và 31 xã. Năm 1990, Hương Điền lại được  chia thành 3 huyện mới là Quảng Điền, Hương Trà và Phong Điền. Cho đến năm 2000, huyện Phong Điền gồm có 15 xã, 1 thị trấn, và 146 thôn.
       CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH HIỆN NAY

 

       1. Thị trấn Phong Điền (1.241 hộ) gồm 6 thôn : Trạch Tả, Tân Lập, Trạch Thượng trên, Trạch Thượng dưới, Vĩnh Nguyên và Khánh Mỹ.
     2. Xã Phong Mỹ (912 hộ) gồm 8 thôn : Lưu Hiền Hòa, Tân Mỹ, Phước Thọ, Hòa Bắc, Huỳnh Trúc, Hưng Thái, Đông Thái, Phong Thu và 2 bản : Hạ Long và Khe Trăn.
     3. Xã Phong Xuân (962 hộ) gồm 15 thôn : Quảng Lợi, Quảng Lộc, Cổ Xuân, Bến Củi, Hiền An 1, Hiền An 2, Hiền An 3, Phong Hòa, Xuân Lập, Bình An, Vinh Phú, Vinh Ngạn 1, Vinh Ngạn 2, Tân Lập và Điền Lộc.
     4. Xã Phong Sơn (1.925 hộ) gồm 13 thôn : Đông Dạ, Hiền Sĩ, Cổ By 1, Cổ By 2, Cổ By 3, Phe Tư, Sơn Bồ, Sơn Qủa, Thanh Tân, Công Thành, Hiền An, Phổ Lại và Tứ Chánh.
     5. Xã Phong An (2.221 hộ) gồm 7 thôn : Phò Ninh, Thượng An, Bồ Điền, Đồng Lâm, Vĩnh Hương, Phường Hóp và Đông An.
     6. Xã Phong Hiền (1.425 hộ) gồm 13 thôn : Hiền Lương, Cao Xá, Sơn Tùng, Truông Cầu, An Lỗ, Cao Ban, Gia Viên, La Vần, Thượng Hòa, Hưng Long, Triều Dương, Bắc Thạnh và Vĩnh Nảy.
     7. Xã Phong Thu (606 hộ) gồm 8 thôn : Huỳnh Liên, An Thôn, Vân Trạch Hòa, Trạch Hữu, Ưu Thượng, Đông Lái, Khúc Lý-Ba Lạp và Tây Lái.
     8. Xã Phong Hòa (1.822 hộ) gồm 13 thôn : Phước Phú, Hòa Đức, Mè, Trung, Mỹ Cang, Đông Thượng, Trạch Phổ, Tư, Ba Bàu Chợ, Chùa-Thiềm Thượng, Niêm, Đức Phú và Thuận Hòa.
     9. Xã Phong Bình ( 1.429 hộ) gồm 12 thôn : Đông Mỹ, Triều Qúy, Tả Hữu Tự, Rú Hóp, Đông Trung Tây Hồ, Tây Phú Phò Trạch, Hòa Viện, Vĩnh An, Đông Phú, Trung Thạnh, Tây Phú Vân Trình và Siêu Quần.
     10. Xã Phong Chương (1.557 hộ) gồm 9 thôn : Bàu, Nhất Phong, Mỹ Phú, Chính An, Trung Thạnh, Đại Phú, Lương Mai, Phú Lộc và Ma Nê.
     11. Xã Điền Hương (538 hộ) gồm 5 thôn : Thanh Hương Tây, Thanh Huơng Đông, Thanh Hương Lâm, Trung Đồng Tây và Trung Đồng Đông.
     12. Xã Điền Môn  (834 hộ) gồm 4 thôn : Vĩnh Xương 1, Vĩnh Xương 2, Kế Môn 1 và Kế Môn 2.
     13. Xã Điền Lộc  (1009 hộ) gồm 8 thôn : Nhất Đông, Nhì Đông, Nhất Tây, Nhì Tây,Gíap Nam, Hòa Xuân, Tân Hội và Mỹ Hòa.
     14. Xã Điền Hòa  (876 hộ) gồm 11 thôn : 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, Thế Mỹ A và Thế Mỹ B.
     15. Xã Điền Hải (1.211 hộ) gồm 8 thôn : Xóm Chùa, Xóm Diêm, Xóm Nẩy, Xóm Lùm, Xóm Cày, Xóm Đò ( gọi là Thế Chí Đông từ 1 đến 6), Minh Hương và Ngư Nghiệp.
     16. Xã Phong Hải (902 hộ) gồm 4 thôn : Hải Thế, Hải Thành, Hải Đông và Hải Nhuận.
 

 

Cập nhật ngày Thứ ba, 10/12/2013

Tin liên quan

Liên kết hội đồng hương

  • HĐH Mỹ Xuyên Cang
  • BQL Làng cổ Phước Tích
  • Làng Thế Chí Tây
  • Làng Kế Môn Sài Gòn
  •  Làng Đại Lộc
  • Đồng Hương Làng Ưu Điềm
  • Trang thông tin điện tử Huyện Phong Điền
  • Đồng Hương Điền Hải
  • Văn Hóa Miền Trung
  • Làng Vĩnh Xương
  • Hội ĐH Làng cổ Phước Tích
  • Làng Lương mai

HĐH P.Điền trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 33
Tổng truy cập: 976.433