23/072016

Ăn mày dĩ vãng

Lượt xem: 841

“ĂN MÀY DĨ VÃNG”

 

 Là tên một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai, xuất bản lần đầu năm 1991, và sau đó không lâu được chuyển thể thành phim với tựa đề “Người đi tìm dĩ vãng” do hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất. Ở đây, xin miễn đi sâu vào nội dung và hàm ý của cốt truyện. Chỉ biết rằng từ đó, khái niệm “ăn mày dĩ vãng” đã trở nên phổ biến trong đời sống truyền thông, dùng để chỉ một nhân vật, một tổ chức tồn tại dựa vào “hào quang của quá khứ”.

 

Lúc đầu, cụm từ nghe có vẻ “lạ” và khá ấn tượng. Đặc biệt, với những ai bị cho là ...“ăn mày dĩ vãng” thì  thật “khó nghe”. Vậy nhưng, trong bối cảnh hiện nay - sau hơn 20 năm từ khi cuốn tiểu thuyết ra đời - chính cụm từ này mới lột tả hết những vấn đề thời sự, đang diễn ra cho những con người giữa “quá khứ” và “hiện tại”, giữa những gì mà người ta cứ mãi mê “tôn thờ” trong quá khứ rồi vô tình hay cố ý “quên” đi hiện tại.


 

            Ăn mày, hay ăn xin – nói theo ngôn từ ngày nay cho “nhẹ” bớt – là chỉ một hành vi đi xin ăn của những người nghèo đói, bất hạnh trong xã hội. Mà kinh tế, xã hội càng rơi vào khủng hoảng, bế tắt, thất nghiệp tràn lan thì người nghèo càng nhiều lên và tình trạng đi xin ăn cũng “nở rộ” theo. Dưới một góc nhìn nào đó, hẵn là những người ăn xin này đáng thương hơn là đáng trách. Trách là trách những kẻ lười biếng không chịu làm việc để kiếm sống, chứ có ai đi trách cứ những số phận – mà người ta, nhiều lúc cũng phải thừa nhận là “giàu nghèo có số” cả.

           

            Có điều khác, người ăn xin thường là xin thực phẩm, nước uống, quần áo hay tiền – là những thứ thuộc về vật chất - cho qua cơn hành hạ của đói khát, buốt lạnh. Và người “cho” hay “nhận” đều cùng là những người “đương thời” với nhau, cùng sống trong một không gian và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định. Có ai lại đi ăn xin, ăn mày một thứ “vô hình” đã thuộc về quá khứ. Đó là dĩ vãng!  Nói khác, ai lại đi xin những người đã khuất, là ông bà, tổ tiên – vốn đã nằm yên dưới ba tấc đất, trong khi mình là những người đang được sống, đang có cả hai bàn tay và khối óc vẹn toàn? Bởi vậy mà người ta không dùng từ “ăn xin” với chút lòng cảm thông vốn có, mà phải dùng hai từ “ăn mày” với  nội dung chứa đầy những chê trách và khinh bỉ.

 

            Trong phạm vi cá thể hay gia đình, dòng tộc nhỏ hẹp, lớp hậu sinh lắm khi ỷ lại vào cha ông, thường mang những quá khứ vàng son và hiển hách của tổ tiên ra, nhưng để giáo dục và “làm theo” thì ít, thậm chí là không làm được gì, mà để khoe khoang, để “lòe” thiên hạ, để tự nâng giá trị bản thân mình thì nhiều. Điều này cũng chỉ ra rằng, lớp hậu sinh đang gặp phải tình huống suy tàn, bế tắt trong hiện tại, nghĩa là cũng đang “đói khát” buộc phải “cầu cứu” đến cha ông. Phải chăng đó chính là một hành vi “ăn mày dĩ vãng” mà cụm từ này đã không ngần ngại lột tả? Họ quên rằng chính tổ tiên đã dạy, rằng “con hơn cha mới là nhà có phúc”. Nghĩa là lớp đi sau phải luôn tiến bộ hơn lớp người đi trước thì mới thuận theo chiều hướng của phát triển.

 

            Trong phạm vi một dân tộc, một xã hội thì cũng không khác, chỉ có điều ở tầm vóc rộng lớn hơn. Bởi dân tộc hay xã hội nào cũng đều có quá khứ, hiện tại và vị lai. Cũng có nòi giống, tổ tiên đi trước và lớp hậu sinh theo sau. Dân tộc nào cũng có những quá khứ huy hoàng, những nhân vật hiển hách để làm tấm gương cho hậu thế. Việt Nam ta cũng không ngoại lệ. Cũng có thời kỳ huy hoàng của các vua Hùng dựng nước. Cũng có những thắng lợi vĩ đại trong công cuộc mở mang bờ cõi và chống ngoại xâm. Trong quá trình đó, không thể kể hết những anh hùng dân tộc đã để lại dấu ấn và tên tuổi qua các thời đại …Và còn nữa, những anh hùng vô danh, đã âm thầm ngã xuống cho mảnh đất này được đứng lên và đơm hoa kết trái.

 

            Nhắc lại những tấm gương sáng ngời ấy cho hậu thế soi theo là điều cần thiết. Nhưng không chỉ để “tự hào” suông về cha ông tiên tổ, mà phải “noi theo”, phải “làm theo” cho bằng được, ít nhất là vậy, chứ chưa nói đến hậu sinh phải “khả úy”, phải “làm hơn” những gì cha ông đã làm. Đó mới là điều quan trọng và cần thiết để không phải hổ thẹn với tổ tiên. Cha ông ta vốn sống giản dị, khiêm tốn, chỉ mong mỏi con cháu đời sau phải mạnh mẽ lên để bảo vệ và xây dựng non sông, đem lại ấm no hạnh phúc cho đồng bào mình, chứ không cần phải xây tượng đài để ghi nhớ. Bởi tiền nhân cũng đã thừa biết rằng: tượng đài vĩnh cửu không thể chỉ xây bằng kim loại hay gạch đá trên núi đồi xa xôi hay trong lòng thành phố, mà  ngay ở trong lòng dân. Đó mới chính là những tượng đài vĩnh cửu.

 

            Còn nếu chỉ lấy cái hào quang của cha ông trong quá khứ, cái uy nghi của tượng đài dựng lên để ngợi ca, thậm chí, sử dụng như tấm bình phong để che lấp những yếu kém và vô dụng của lớp hậu sinh kế thừa, thì đó chính là “ăn mày dĩ vãng”. Là đắc tội lớn với cha ông, với dân tộc và nòi giống. Hãy đừng để con cháu mai sau lại rơi vào tình huống ngược lại, là phải hổ thẹn, phải “chạy trốn dĩ vãng”: một dĩ vãng đau buồn mà thế hệ mai sau sẽ muốn quên đi.

 

*Bài: Thao Mạnh - Ảnh minh họa: sưu tầm

(Trích từ www.langkemonsaigon.com)

 


Cập nhật ngày Thứ bảy, 23/07/2016

Nội dung bình luận

Chỉ chấp nhận bình luận bằng tiếng Việt có dấu, những bình luận sai qui định sẽ bị xóa.

Bình luận tối đa 300 ký tự. 0 ký tự

Không có bình luận nào

Tin liên quan

Liên kết hội đồng hương

  • HĐH Mỹ Xuyên Cang
  • Làng Lương mai
  • Trang thông tin điện tử Huyện Phong Điền
  • Làng Vĩnh Xương
  • Làng Kế Môn Sài Gòn
  • Đồng Hương Làng Ưu Điềm
  • Làng Thế Chí Tây
  • BQL Làng cổ Phước Tích
  • Đồng Hương Điền Hải
  • Văn Hóa Miền Trung
  •  Làng Đại Lộc
  • Hội ĐH Làng cổ Phước Tích

HĐH P.Điền trên Facebook

Thống kê truy cập

Online: 53
Tổng truy cập: 945.978